Sự Ốm Yếu Ẩn Dụ trong Kiến trúc Hiện đại, Beatriz Colomina (p1)

Từ lâu đời khi chúng ta còn nhớ được, hay lịch sử còn ghi nhớ, kiến trúc theo sát ngành y học. Nếu các học thuyết cổ điển của thành bang Hy Lạp (polis) dựa trên học thuyết bốn thể khí trạng (*), thì những tư tưởng hiện đại về bệnh tật cũng gây ảnh hưởng đến nền tảng kiến trúc trong thế kỉ này.

Thử nghĩ về tác động của căn bệnh lao phổi đối với kiến trúc đầu thế kỉ hai mươi. Người ta có thể viết hẳn cả một cuốn sách về đề tài này, bắt đầu với mối cộng tác thiết thực giữa kiến trúc sư và bác sĩ trong viện điều trị lao phổi: chẳng hạn toà nhà Paimio do Alvar Aalto thiết kế, với sân thượng nằm trên bảy tầng lầu trông ra cánh rừng là nơi bệnh nhân được đưa tới để hưởng khí trời thoáng đãng và ánh sáng mặt trời. Cuối cùng người ta phải đóng cửa sân thượng này lại, vì các nhân viên không thể kiểm soát được tình trạng những bệnh nhân tuyệt vọng cứ nhảy lầu tự tử mỗi khi y tá vừa quay lưng đi. Kiến trúc hiện đại là một thể tự sát có trợ giúp? Ngay cả ngày nay, các du khách cũng không được phép leo lên sân thượng vì mối lo ngại họ sẽ nhảy xuống. Nghiên cứu về sau chứng minh rằng không có căn cứ khoa học nào cho liệu pháp không khí và ánh sáng mặt trời. Đôi khi, nó còn dồn vào thế hiểm nghèo (ví dụ đúng nghĩa đen như ở nhà thương Paimio).

Lịch sử kiến trúc hiện đại ghi dấu một số lượng lớn các thiết kế nhà thương: Nhà thương lao phổi Dispensario Antituberculoso của José Luis Sert ở Barcelona (1934-38), Zonnestraal của Jan Duiker và Bernard Byvoet ở Hilversum (1925-28), Purkersdorf của Josef Hoffmann ở ngoại ô Viên (1903) và nhiều nơi khác nữa. Một điều quan trọng hơn là tư tưởng mang tính y khoa được đưa vào cả kiến trúc nội gia; các mối bận tâm về hệ thống quạt khí, ánh sáng, vệ sinh, tường trắng. Ulrich viết về điều này trong cuốn ‘Con người không phẩm chất’ (The Man without Qualities) của Robert Musil: ‘Con người hiện đại sinh ra trong bệnh viện và chết đi trong bệnh viện – thế nên khi sống người đó cũng nên sống trong một nơi như bệnh viện.’ Câu châm ngôn này ‘được công thức hoá bởi kiến trúc sư hàng đầu, và một nhân vật khác, người cải tổ thiết kế nội thất, yêu cầu có những mảng vách ngăn di động trong căn hộ.’

Như trên cho thấy, có vẻ kiến trúc hiện đại và những cổ vũ viên cho họ vận động cho một cuộc sống giống trong nhà thương. Ví dụ, quyển sách nhỏ ‘Ngụ cư tự do’ (Befreites Wohnen) của Sigfried Giedion có tiểu đề là Ánh sáng, Không khí, Mở (Licht, Luft, Öffnung). Hơn phân nửa tranh ảnh minh hoạ trong quyển này là về các công trình bệnh viện hay thể thao: nhà thương do Richard Döcker vẽ ở Waiblingen (1926-28), Zonnestraal của Byvoet và Duiker, nhà nghỉ trên núi, resort bãi biển, sân vận động thể thao, hình ảnh thể dục, tắm nắng, quần vợt… Và khi chúng ta đi vào bên trong những toà nhà này, chúng biến thành nhà thương, với người dưỡng bệnh nằm nghỉ trên các ghế dựa nghiêng đặt trên sân thượng (trong tấm ảnh nhà của Max Häfeli ở Zurich chụp năm 1928), phòng thể dục giống trong phòng ngủ chứa thiết bị tập luyện do Marcel Breuer thiết kế cho Picastor ở Berlin (1927-28), khu tập thể dục mái thượng trên Toà Guggenbühl ở Paris do André Lurçat thực hiện, hay sân thượng với đồ tập thể thao trong nhà Werkbundsiedlung ở Stuttgart của Richard Döcker (1927).

516986.jpg
tileshop-fcgi.jpg

Bệnh nhân nằm nghỉ trên ghế dựa mây (1892) (Dannenfels, Đức. BASF Aktiengesellschaft, BASF AG.).

Không chỉ các kiến trúc sư hiện đại nhấn mạnh sức khoẻ và thể thao (là cách chống lại bệnh tật( mà kiến trúc của họ làm ra cũng được hiểu theo cách đó.

Những toà nhà được đánh đồng một cách vô thức với một cơ thể khoẻ mạnh. Chẳng hạn, nhà Tugendhat của Mies van der Rohe ở Brno dựng năm 1929-30 bị bỏ hoang trong suốt thời gian Đức quốc xã chiếm đóng Czechslovakia, sau được các quan chức Cộng sản chuyển thành khu thể dục thể thao cho trẻ nhỏ – những người này có lẽ không thể ngờ rằng căn nhà đó trước đây từng được chụp ảnh với chính mục đích sử dụng này. Các tấm ảnh chụp toà Tugendhat với đám trẻ chơi đùa trên sân thượng đầy nắng vào đầu thập niên 1930 hồi lại một cách kì lạ trên các hình ảnh trẻ em tập luyện trong phòng sinh hoạt / thể thao vào thập niên 60. Không có gì đắn đo, kiến trúc hiện đại lập tức được hiểu như một thiết bị y khoa, một cơ chế bảo vệ và nâng cao cơ thể con người.

Một ví dụ khác: bản quy hoạch thành phố lý tưởng của Tony Garnier mang tên ‘Thành phố Công nghiệp’ (Une cité industrielle) (1904) đặt  toà nhà chữa bệnh bằng ánh sáng (heliotherapy) trong tập khu bệnh viện ở vị trí cao nhất trên quả đồi nhìn xuống thành phố, với trung tâm thể thao nằm ngay giữa khu phố thị, tựa như nhà thờ lớn thời trung cổ. Sức khoẻ trở thành thứ tín ngưỡng mới. Hay nghĩ về nỗi ám ảnh của Le Corbusier luôn tìm cách tách rời cả căn nhà (với sự trợ giúp của hệ thống cột nhà tầng trệt – pilotis) khỏi thứ ông gọi là ‘nền ấm ướt’, nơi bệnh tật sinh sôi, và việc ông tận dụng phần mái nhà như mảnh vườn để tắm nắng và tập thể thao. (Tất nhiên, lúc ấy không ai mảy may nghĩ tới bệnh ung thư da, nhưng đó lại là một câu chuyện khác.)

Villa Savoye ở Poissy do Le Corbusier thiết kế, 1928, FLC L2 (17) 4. (© FLC/ADAGP, Paris and DACS, London 2004.)

Quả thực, kiến trúc đầu thế kỉ hai mươi không thể phân tích nằm ngoài căn bệnh lao phổi. Triệu chứng, nếu không thì nguồn gốc căn cứ, của kiến trúc hiện đại dường như được trích dẫn trực tiếp từ văn bản y khoa về chứng bệnh. Trước khi nhà vi sinh học người Đức Robert Koch phát hiện ra khuẩn que u lao vào năm 1882, cuốn sách y khoa quy chuẩn chỉ ra những nguyên nhân gây bệnh: “khí hậu không thuận lợi, lối sống bó gối trong nhà ít di chuyển, hệ thống thông gió yếu kém và thiếu hụt ánh sáng’. (2) Phải mất một thời gian dài để những nhận định này mất giá trị tin dùng. Như Susan Sontag viết, ‘Bệnh nhân lao phổi được nghĩ rằng họ cần được trợ giúp, chữa trị bằng cách thay đổi môi trường. Có nhận định rằng bệnh lao phổi là một chứng bệnh đầm đìa, chứng bệnh của những thành phố ẩm ướt và nhớp nháp. Bên trong cơ thể trở nên ẩm thấp (‘nước đóng trong phổi’ là một đặc ngữ ưa dùng) và phải được sấy khô.’ (3)

Kiến trúc sư hiện đại đề cao sức khoẻ bằng việc cung cấp chính sự thay đổi môi trường. Kiến trúc thế kỉ mười chín bị tha hoá vì thiếu mạnh khoẻ, và mặt trời, ánh sáng, điều hoà khí gió, thể dục thể thao, sân thượng, vệ sinh và màu trắng toát được đưa vào làm công cụ bảo vệ, hay nói cách khác là chữa trị bệnh lao phổi.  Chiến dịch quần chúng của kiến trúc hiện đại được diễn tiến xung quanh niềm tin bấy giờ về chứng lao phổi và nỗi sợ hãi bệnh tật.

Khi tiếp cận lao phổi, các kiến trúc sự không chỉ điều chỉnh nó hoà chung với các thể trạng ốm yếu khác. Như Susan Sontag tranh luận, một số bệnh tật bị ‘đè nén hơn một cách cường điệu hoá và đồng dạng nhau trong cái bẫy của phép ẩn dụ’ như bệnh lao phổi và ung thư. (4) Trong cuốn sách Động cơ vận động con người (The Human Motor), Anson Rabinbach tiến xa hơn nữa trong việc định vị chứng lao phổi là một phần của quá trình tái thiết lại hoàn toàn tư tưởng về cơ thể con người. (5) Ông lý luận rằng nỗi ám ảnh về sự mệt mỏi trở nên thịnh hành từ khoảng giữa năm 1895 và Thế chiến thứ nhất, chính là dấu hiệu cho những lo sợ tăng cao về kỉ công nghiệp. Bệnh tật như chứng lao phổi bị gán cho sự mệt mỏi, và các chương trình thể dục rèn luyện được đưa ra để chống lại nó. Đã có một cuộc kêu gọi rộng rãi cho thể dục thể thao có tổ chức. Thể dục thể chất, môn chỉ dành trong quân đội vào thế kỉ mười chín, bây giờ được tán thành vào trường học. Hơn thế nữa, bản thân quân đội cũng được tái tổ chức, dựa trên nền tảng của ‘khoa học lao động’ mới. Y học và sinh học trở thành nền tảng của lý thuyết chính trị. Suốt giai đoạn ‘sinh học hoá chính trị’ này, các ngành khoa học nghiên cứu cơ thể được thành lập dựa trên nền tảng ‘vệ sinh xã hội’. Tới năm 1910, người ta tách riêng sinh lý học và tâm lý học nhưng lại thành công khi tái kết hợp chúng thành ‘công nghệ tâm lý’ (psychotechnics) trong cuộc Thế chiến thứ nhất. Với sự tiếp nối quân sự đó, sự hợp nhất giữa nghiên cứu khoa học châu Âu và chủ nghĩa quản lý theo khoa học (Taylorism) ở Mỹ trở thành công cụ quy chuẩn cho quản lý công nghiệp mới. Giấc mơ về một cơ thể không mệt mỏi đạt tới đỉnh cao tai hoạ ở đế chế độc tài trong thập niên 20 và 30. Sự sợ hãi chứng lao phổi là chìa khoá liên kết vững chắc giữa cơ thể, quân sự, công nghiệp và chính trị.

Chúng ta có thể quan sát quỹ đạo trên trong kiến trúc. Các kiến trúc sư lặp đi lặp lại hình ảnh bệnh tật để diễn tả mối quan ngại về trật tự xã hội. Vai trò truyền thống của kiến trúc gánh vác trật tự nay quàng thêm những trọng trách khác với các bệnh tật khác nhau. Sự tái tạo lại cơ thể y học từ nhiều ngành khoa học mới dẫn đến việc tái tạo ngành kiến trúc.

Những trang đầu tiên trong Vers une architecture của Le Corbusier (1923) – đăng trên tờ L’Esprit Nouveau (số 11/12), bao gồm ‘chẩn đoán’ của ông về thể trạng của kiến trúc, quy tội kiểu nhà truyền thống cho việc sản sinh ra hiệu ứng suy nhược của lao phổi (‘sự tàn phá’ (**)). Ông tiếp tục cổ vũ cho công trình sư khoẻ mạnh lên trên kiểu kiến trúc sư ốm yếu:
‘Đó là số mệnh của chúng ta đã để cho chính mình trở thành sinh vật ngồi một chỗ; nhà cửa chúng ta giày vò trong sự uể oải của chính ta, như là một sự tàn phá. Chúng ta chẳng sớm thì muộn sẽ cần rất nhiều nhà thương… Các kỹ sư của ta khoẻ mạnh và cường tráng, năng động và hữu dụng, cân bằng và hạnh phúc trong lao động. Các kiến trúc sư của ta bị vỡ mộng và thất nghiệp, khoác lác hoặc hay càu nhàu. Đó là vì sẽ chẳng còn gì cho họ làm nữa. Chúng ta chẳng còn tiền để dựng lên các đồ kỉ niệm lịch sử. Cùng lúc đó, chúng ta phải rửa sạch! … Chân đoán sạch sẽ. Kỹ sư của ta sản xuất kiến trúc… Đâu đó người ta vẫn tin và kiến trúc sư, như người ta tin mờ mắt vào tất cả các bác sĩ.’

Trong suốt tập sách, sức khoẻ là một lời kêu gọi chiến đấu. Chương cuối nêu sự tương phản giữa nơi làm việc hiện đại ‘khoẻ mạnh’ với chỗ cư ngụ cá nhân ‘yếu bệnh': ‘Bộ máy chúng ta đang sống là một toa khách cũ kĩ chứa đầy lao phổi.’ GIống nhiều kiến trúc sư khác, Le Corbusier mở rộng lý luận y tế torng phạm vi căn nhà ra cả thành phố, Trong Urbanisme, ông bác bỏ thành phố mệt mỏi và tìm kiếm bài ‘thuốc chữa’, kết luận rằng ‘ca mổ’ là cần thiết để vứt bỏ ‘khối ung thư’ của khối đường phố suy tàn và ‘đám nhà cũ kỹ mục nát đầy lao phổi’. Ông liên hệ bệnh tật đường phố với bệnh tật căn nhà. Nhưng trong khi Le Corbusier liên đới căn nhà với chứng lao phổi lúc đó, một cách ẩn dụ, thành phố đã bị ung thư.

Trong bộ phim L’architecture d’aujourd’hui (1929) cộng tác với Pierre Chenal, Le Corbusier tranh luận rằng bệnh tật phát sine trong thành phố vì con người ở thế kỉ hai mươi vẫn sống như thời Trung Cổ. Ông rõ ràng đặt bệnh tật ngang hàng với sự hỗn loạn đô thị. (Frank Lloyd Wright và một số người khác sau này dùng ẩm dụ của bệnh ung thư phá triển vượt tầm kiểm soát để nói tới thành phố đương đại.) Giải pháp của Le Corbusier: luyện tập trên vườn sân thượng. Cuốn phim dẫn dắt qua căn villa của ông xây vào thập niên 1920 nhấn mạnh một lần nữa giá trị của tắm nắng và tập luyện. Cực điểm nằm ở cú máy cận, quay chéo từ dưới lên cảnh một người đàn ông và hai người phụ nữ hăng hái tập tành trên khu vườn mái thượng của Villa Nhà Thờ. Căn nhà, đầu tiên và trước nhất, là bộ máy dành cho sức khoẻ, một dạng thức của liệu pháp chữa bệnh bên trong chính nó.

https://vimeo.com/67793221

phim L’architecture d’aujourd’hui (1929)

(*) – chú thích người dịch: bốn thể khí trang trong y học cổ Hy Lạp bắt nguồn từ Hippocrates, được xem là cha đẻ của ngành y phương Tây, sống khoảng năm 460-377 trước Công nguyên. Theo ông, bệnh tật gây ra bởi chứng isonomia, chứng bất quân bình của bốn thể khí trạng – đồng thời tương ứng bốn mùa trong năm và bốn yếu tố cấu thành vũ trụ:
– mặt vàng: tương ứng mùa xuân và lửa
– mặt đen: mùa thu và đất
– tính uể oải: mùa đông và nước
– máu: mùa xuân và khí
tuỳ vào sự bất quân bình giữa bốn thể này, cơ thể và tinh thần sẽ bị ảnh hưởng như buồn thảm, chán nản, cáu gắt hay lạc quan.

(**): trong y khoa, consumption cũng được dùng để nói về bệnh lao phổi, cũng có nghĩa là tàn phá. đây có thể là cách chơi chữ của Le Corbusier

(2): August Flint & William H.Welch, The Principles and Practice of Medicine (5th edition, 1881) trích từ René and Jean Dubos, The White Plague (1952), 69; và Susan Sontag, Illness as Metaphore (New York, Vintage Books, 1979), 53

(3): Sontag, Illness as Metaphore, 14-15

(4): sđd, 5

(5): Anson Rabinbach, The Human Motor: energy, Fatigue, and the Origins of Modernity (New York: Basic Books, 1990)

AQAT, tháng 11 năm 2013

The Chăm BàNi's cemetery

An abandoned land? A zen-inspired garden? A South American desert? A set for a science fiction film?

What one can immediately see are lines of parallel natural rocks, in different forms and colors and the rocks are carefully arranged into a path that is leading somewhere. Between each pair of rocks was buried up to ten bodies. They are buried on top of each other. This is not a site of a massacre, but a cemetery.

Ghur Girai Neh is an ancient cemetery that belongs to the Cham Ba-Ni. The history of the Cham is the poignant history of the defeated. Champa used to be a powerful kingdom that lasted from 192 to 1832. It is now a part of central Vietnam. The Champa nation was invaded by the Dai Viet (Vietnam nowadays) from the north. By doing so the Viet integrated Champa to its map and used it as a path to expand the nation towards the south, including what is the Mekong delta today. In Champa there are two main religions, Hindu and Ba-Ni. Hindu has Indian origins and Ba-ni is originally rooted in the Islam of the South East Asia region. However, Ba-Ni split of from Islam, it was transformed and localized by the Cham to be a new kind of religion.

We used motorbikes to get to the cemetery. It is next to a fishing village that is around 20 km from Phan Rang City. There is something beautiful and sad about this place. It is alongside the main road, but it is a cemetery with no names, no fences, and no signs to notify us of what it is. Yet for us, this is an entirely foreign scene. We are a group of 5 Vietnamese, 4 American and 1 British visitors, none of us have ever seen a Cham Ba-Ni cemetery. We were able to get here with the help of a local friend. This place for them is a sacred place. The cemetery is no longer in use but the Cham still visit the cemetery once a year to bring offerings and to worship their ancestors. Therefore, when we arrive, the place looks abandoned. The land is filled with waste and trash from the fishing village, and the cemetery itself is slowly disappearing by both natural causes and man-made causes.

The land is near the coastline, from which sand is blown by the wind to cover up the round stones that mark the burial site. Many of the stones are hidden under the sand. The stones do not have names. The Cham believe in a culture of namelessness, authors used to not sign their writings, and the dead person isn’t named but marked with two stones, one at the beginning and one at the end of their body. This concept of namelessness is alien to most of us, the so-called civilized beings who trust the system of names and identity.

The plants at the cemetery have structural, strong shapes: cactuses, blue agave, beach morning glory…and many unknown succulent plants. They look dry and hard, in much the same way as the people that live here. It is so strange to have plants that are a good representation of their human counterparts

  Goats wandering around the area looking for edible plants

Goats wandering around the area looking for edible plants

People in the fishing village are not Cham. The Cham Ba-Ni never built cemeteries next to their houses. The Kinh[1] came here, surrounded the land with their bare cement houses, discarded waste in the land and treated it as an abandoned place. Some built houses on top of the cemetery, removed the stones that marked the site of the dead and used the stones to build wall in their backyards or to decorate their gardens.

  Houses are built in the area of cemetery. They remove the stones to built houses on top.

Houses are built in the area of cemetery. They remove the stones to built houses on top.

The government when opening a new national road in the 1990s split the cemetery in half. A new wide road erases part of the cemetery. Now the dead have to lie in eternal separation.

I have never seen anywhere a way of arrangement of death that is so modest, simple and minimal: no name, no fence, and no altar. Just natural stones mark the site. This is the art of how to die aesthetically.

During our trip, like tourists, we visited the largest remains of the Cham temple, the PôKlông Garai. What I saw was an absurd scene. A group of Cham women, with their pots in hand, wearing their colorful traditional dresses, posed next to the temple for a group of Chinese tourists. The tourists were equipped with the best cameras and gears, proudly taking pictures of the local women. The photography tour ends up as a shared happiness: the local women were happy to be photographed and to get paid. The tourists were happy to capture images of exotic places.

  A Cham woman dresses up to pose for tourist pictures

A Cham woman dresses up to pose for tourist pictures

  Group of Chinese tourists taking pictures of the local women

Group of Chinese tourists taking pictures of the local women

Two kinds of abusive events are produced.‪The invasion of the Cham Ba-Ni cemetery is a form of abuse by a majority power towards a less powerful ethnic group. ‪The second event involves the voluntary action of the Cham women posing for the tourists, propagating a fiction of their culture.

 

Hình tượng trong tác phẩm nghệ thuật đương đại / Iconography in contemporary artworks

Workshop ‘Kích / Nghĩ’:

‘HÌNH TƯỢNG THỊ GIÁC TRONG NGHỆ THUẬT, NHÂN HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC KHÁC’

thực hiện bởi nhóm LAO ĐỘNG NGHỆ THUẬT

đồng phối hợp giữa Sàn Art & Khoa Nhân học, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn

Buổi 2: 16/12/2013  

HÌNH TƯỢNG TRONG TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT ĐƯƠNG ĐẠI

trình bày bởi Trương Công Tùng và Phan Thảo Nguyên – nghệ sĩ của nhóm

Lấy trực tiếp tác phẩm đang sáng tác trong dự án nghệ thuật ‘Niềm tin vô điều kiện’, khảo sát về niềm tin của con người cùng lúc vào y học hiện đại lẫn đấng siêu nhiên siêu hình trong quá trình chữa bệnh, phần trình bày của hai nghệ sĩ Trương Công Tùng và Phan Thảo Nguyên sẽ cho thấy các hình tượng trong xã hội, tín ngưỡng, khoa học, ngôn ngữ được biến thể ra sao trong hình thái tác phẩm nghệ thuật.

Công Tùng đã theo dõi hiện tượng ‘khu vườn kỳ lạ’ ở Long An trong nhiều năm. Những liên kết với khu vườn đặt ra cho anh rất nhiều câu hỏi về thân phận con người, những người mà bệnh tật hiểm nghèo khiến khoa học và y học hiện đại phải đầu hàng và nhường chỗ cho niềm tin. Tùng sẽ giới thiệu quá trình sáng tác với những tác phẩm được làm từ những nguyên liệu tự nhiên như đất, mối, gỗ mục…được thu nhặt từ quê hương anh ở Đắc Lắc và những ảnh tư liệu từ ‘khu vườn kỳ lạ’ ở Long An. Tùng hứng thú với sự những vấn đề văn hoá như tôn giáo và niềm tin, chẳng hạn việc đạo Tin Lành và Phật giáo hoà trộn với những điển tích cổ xưa về tính ban sơ bản địa cùng những tín ngưỡng thần linh và thuyết vạn vật hữu linh. Cảm nhận cá nhân  của Tùng về thân phận đặc biệt của bản thân và những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình nghiên cứu sẽ được Tùng chia sẻ qua workshop.

Tác phẩm của Thảo Nguyên mặt khác lại liên quan đến kiến trúc, y học, ngôn ngữ học và ký hiệu học. Dưới góc nhìn của một nghệ sĩ thị giác, tất cả những lĩnh vực tưởng chừng rất khác nhau đó được Thảo Nguyên tạo lập thành một mạng lưới những liên kết có lúc mơ hồ, có khi bền chặt. Qua việc tạo ra những tác phẩm nghệ thuật không dành cho bảo tàng mà dành cho những không gian công cộng với mục đích đặc trưng như bệnh viện mắt, Thảo Nguyên muốn thể nghiệm quá trình nhận thức và những chiêm nghiệm về số phận của nghệ thuật khi được trưng bày ở một không gian vốn không dành riêng cho nó. Thảo Nguyên sẽ trình bày thêm những nghiên cứu cá nhân về sự hình thành của chữ quốc ngữ, những giả thiết và hư cấu xung quanh nó, và những nỗi hoài nghi về một ngôn ngữ đã trải qua nhiều biến động và hi sinh để cấu thành tiếng Việt ngày nay.

Thông qua workshop, hai nghệ sĩ muốn chia sẻ quá trình nghiên cứu và thực hiện tác phẩm nghệ thuật. Khoa học xã hội đã trở thành một tư liệu không thể thiếu trong việc nghiên cứu và thực hành nghệ thuật của các nghệ sĩ thị giác. Chúng tôi hi vọng nghệ thuật cũng sẽ trở thành nguồn cảm hứng và nguồn tư liệu thú vị của khoa học xã hội.

Bằng phương pháp phân tích hình tượng học được cung cấp từ buổi 1, người tham dự có thể vận dụng, cùng với kiến thức chuyên môn sẵn có từ nhân học – xã hội học, để tham gia thảo luận và đóng góp ý kiến cho các tác phẩm đang hình thành của hai nghệ sĩ thị giác.


Sơ khảo phương pháp nghiên cứu hình tượng / Introduction to iconography study

Workshop ‘Kích / Nghĩ’:

‘HÌNH TƯỢNG THỊ GIÁC TRONG NGHỆ THUẬT, NHÂN HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC KHÁC’

thực hiện bởi nhóm LAO ĐỘNG NGHỆ THUẬT

đồng phối hợp giữa Sàn Art & Khoa Nhân học, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn

Buổi 1: 9/12/2013

SƠ KHẢO PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HÌNH TƯỢNG

trình bày bởi Arlette Quỳnh-Anh Trần – curator của nhóm

Trong ngành Lịch sử nghệ thuật, Biểu tượng luận (Symbolism) được tìm hiểu sâu về ý nghĩa, nguồn gốc và văn cảnh của các biểu tượng, hay hình ảnh được khắc hoạ trên bề mặt tác phẩm nghệ thuật. Phương pháp nghiên cứu này được gọi là Iconography – Phép mô tả hình tượng, tức là khi biểu tượng ‘symbol’ đã trở thành một hình tượng ‘icon’, mà ban đầu, chủ yếu chú trọng vào các hình tượng trong tôn giáo. Trong khi Lịch sử nghệ thuật là một ngành non trẻ so với các khoa học nhân văn khác, thì bộ môn Hình tượng học còn mới mẻ hơn, chỉ ra đời và được phân tích một cách có hệ thống từ nửa đầu thế kỉ 20,  do nhà lịch sử nghệ thuật người Đức Erwin Panofsky phát triển. Nhận diện được được hình tượng trong tác phẩm là bước đầu, giải nghĩa chúng nhằm hiểu được tác phẩm là bước tiếp theo quan trọng hơn, mà trong Lịch sử nghệ thuật gọi là Iconology – Nghiên cứu hình tượng.

Bài nói chuyện sẽ trình bày về sự ra đời và phương pháp phân tích của ‘Nghiên cứu hình tượng’, đa phần lấy học thuyết của Erwin Panofsky làm căn bản. Để minh hoạ cho phương pháp, các dẫn chứng từ nghệ thuật sẽ được đưa ra. Trong đó, các ví dụ đầu tiên sẽ là nghệ thuật phục vụ cho tôn giáo, tiếp theo là giới quý tộc – Hoàng gia rồi thương nhân. Cuối cùng, bài nói chuyện sẽ kết thúc bằng các khủng hoảng và bước chuyển tiếp cần thiết của ‘Nghiên cứu hình tượng’ trong nghệ thuật đương đại, khi nghệ thuật không còn sử dụng nhằm tôn thờ sức mạnh hay nhân tố nào, mà nghệ thuật là phương tiện sáng tạo cấp tiến nhất của người nghệ sĩ thị giác.

Arlette đang trình bày bài nói chuyện, về giá trị tượng trưng và yếu tố nghệ thuật của hình ảnh minh hoạ khoa học

Curator Arlette đang giải thích cách phân tích / diễn giải của yếu tố màu sắc như hình tượng trong tranh tiểu hoạ Ba Tư

Phần hỏi đáp, trao đổi với sinh viên ngành Nhân học

Toàn cảnh hội trường 

 

Language is a skin

“Language is a skin: I rub my language against the other. It is as if I had words instead of fingers, or fingers at the tip of my words. My language trembles with desire. The emotion derives from a double contact: on the one hand, a whole activity of discourse discreetly, indirectly focuses upon a single signified, which is “I desire you”, and releases, nourishes, ramifies it to the point of explosion (language experiences organism upon touching itself); on the other hand, I enwrap the other in my words, I caress, brush against, talk up this contact, I extend myself to make the commentary to which I submit the relation endure. ”

Roland Barthes

A Lover’s Discourse

Fragments

The importance of antibiotics

 

Thuốc kháng sinh quả là một sáng kiến tuyệt vời của con người nhằm làm dứt bệnh cấp kì. Những ngày chuyển mùa ở Berlin, khi ngày hè nóng nực mưa nhiều bỗng trở xuống 10 độ, hay lúc trời chuyển từ cái mát mát hiu hiu của tiết thu sang lạnh đột ngột dưới 0 độ C của mùa đông, là lúc hệ miễn dịch cơ thể dễ bị tấn công nhất. Sinh viên ai nấy đều lần lượt truyền bệnh cho nhau vì cùng ngồi chung một giảng đường mấy trăm ghế, một cú ho là phát tán virus cho toàn thể. Nhưng phương Tây là cái nôi của thuốc kháng sinh nên làm vốc thuốc kháng sinh mạnh là dứt ngay cơn đau họng – tiềm ẩn đầu tiên của trận sốt cảm lạnh. Các thuốc kháng sinh tốt được bác sĩ kê toa ở VN cũng toàn hàng nhập từ Tây Âu (cũng có khi họ quảng cáo tốt và chiết khấu cao cho bệnh viện!?). Không uống thuốc mà cơ thể mạnh sẵn thì người nóng qua loa, sổ mũi rồi ho tí.

Tôi sẽ không nhận ra kháng sinh ‘thần dược’ cỡ nào nếu không thử sống mà không có nó!

Nằm trên giường bệnh 5 ngày liền chỉ vì bệnh cảm lạnh thông thường có lẽ là một điều khó chấp nhận đối với bác sĩ. Đối với cá nhân người bệnh cũng vậy. Chỉ một luồng gió lạnh từ máy điều hoà nhiệt độ và cảm nắng giữa trưa, tôi thấy cổ họng mình bắt đầu sưng sưng và cơ thể khó chịu. Vì thể trang hiện tại không cho phép hoặc hạn chế dùng các thuốc cảm và giảm sốt thông thường như Paracetamol, Aspirin và kháng sinh, cơ thể mặc nhiên được vào cuộc thử nghiệm chống chọi với căn bệnh cơ bản nhất mà không dùng thuốc. Kinh khủng! Đó là từ mà tôi miêu tả những gì mình trải qua. Virus tấn công cơ thể, cơ thể chống chọi lại. Nói một cách nôm na là trận chiến nóng bỏng theo đúng nghĩa đen vật lý của nó, khiến cho cơ thể nóng tới 40 độ C. Không có kháng sinh, hệ miễn dịch giống như bị tước đi súng đại bác, bom hạt nhân, tàu ngầm và chỉ còn lại mỗi con dao bằng tre tự vót kiểu ‘cây nhà là vườn’.

Bởi vậy, tôi ngày càng hiểu và trân trọng những phát kiến y khoa đã cống hiến cho CƠ THỂ LOÀI NGƯỜI. Và phần nào cảm nhận trực tiếp được, tại sao trước kia người ta chết sớm vậy. Một phần cũng vì không có kháng sinh!

Bệnh viện Chợ Rẫy – Cho Ray hospital

 Toàn cảnh bệnh viện Chợ Rẫy 

Toàn cảnh bệnh viện Chợ Rẫy 

 Một phòng khám trong bệnh viện 

Một phòng khám trong bệnh viện 

 Bệnh nhân nằm tràn ra ngoài hành lang 

Bệnh nhân nằm tràn ra ngoài hành lang 

 Dãy phòng dịch vụ, giá cao của bệnh viện 

Dãy phòng dịch vụ, giá cao của bệnh viện 

 Một anh làm việc ở khu vực công trường sau lưng bệnh viện 

Một anh làm việc ở khu vực công trường sau lưng bệnh viện 

Được xây từ năm 1969 đến năm 1975, bệnh viện Chợ Rẫy do chính phủ Nhật xây tặng Việt Nam Cộng Hoà là một trong những bệnh viện tối tân nhất lúc bấy giờ. Gần đây, tôi được vào tham quan tất cả các phòng ban và kết cấu của bệnh viện này. Bệnh viện có một kết cấu rất đẹp, đơn giản và vững chãi, theo đúng tinh thần Nhật, với một hệ thống thông gió (đáng lẽ) là tuyệt vời.  Tuy nhiên bệnh viện bị quá tải trầm trọng do phải đón nhận bệnh nhân từ các tỉnh miền Tây và miền Trung từ Quảng Trị trở vào. Một bệnh viện có sức chứa 800 người năy phải đón nhận trung bình 3000 người mỗi ngày, với giờ cao điểm khám bệnh là 5000-7000 người. Nhiều dãy nhà phụ, nhà tạm xấu xí, tạm bợ được cất lên nhưng không thể nào đáp ứng nổi nhu cầu khám chữa bệnh của bà con, những người hầu hết đến từ quê với thu nhập bấp bênh.

Bệnh viện cũng nổi tiếng với chuyên khoa phỏng và chuyên khoa sọ não, những bệnh nhân khoa này nằm viện không do bệnh lý từ trong cơ thể mà do tai nạn hoặc chấn thương, nên họ có vẻ ngoài thật chẳng khác nào những thước phim đầu quay những nạn nhân bom nguyên tử trong Hiroshima Mon Amour của Alain Resnais. Những hành lang dài nối tiếp nhau nhưng không bao giờ trống, vì tất cả hành lang, hay tất cả những khu vực có mái che, đều được tận dụng triệt để để dùng làm chỗ nằm cho bệnh nhân.

Tầng cao nhất của bệnh viện, có một dãy phòng mà tôi thấy gần như hoang vắng, mỗi phòng bệnh chỉ có 1-2 bệnh nhân với nội thất đơn giản nhưng đầy đủ, như một khách sạn nhỏ. Hoá ra đó là những phòng Vip với giá tiền 500-700.000 một đêm. Do đó phần hành lang vẫn giữ được không khí trong sạch, thoáng đãng và ngập tràn ánh nắng.

Bệnh viện chợ Rẫy không được quyền từ chối bệnh nhân, do đó nhiều bệnh nhân nghèo không thể trả nỗi viện phí sau khi được chữa trị đã “cao chạy xa bay”. Nhưng, nỗi buồn khổ do sự nghèo đói và sự bất lực của một bộ máy không đáp ứng nổi những nhu cầu sức khoẻ cho nhân dân vẫn còn in đậm trên những tấm ra giường nhàu nát trong bệnh viện.